Bài dự thi Khoa học kỹ thuật Intel-isef

Thứ bảy - 03/11/2018 13:11

 

Aucune description


Để hoàn thành đề tài này chúng em xin chân thành cám ơn:
TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI

1. Thực trạng rác hữu cơ

Để xác định mục tiêu nghiên cứu phương pháp giải quyết dựa trên điều kiện ở Huế , nhóm chúng em đã tiến hành khảo sát một số vấn đề của người dân nơi đây. Dưới đây là mẫu phiếu điều tra tình hình khảo sát các hộ dân ở địa phương


Đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực kĩ thuật môi trường. Nghiên cứu “ Nuôi giun đất xử lí rác hữu cơ” được thực hiện trên địa bàn thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đề tài nhằm làm nổi bật các giá trị mà giun đất (trùn quế) đem lại sau việc xử lí rác sinh học mà hoạt động sinh hoạt - sản xuất do con người thải ra bên ngoài. Qua đó, đưa ra phương hướng để tuyên truyền, vận động và phát huy đề tài đó thông qua thế hệ học sinh- thanh niên, các hộ gia đình trên địa bàn. Dựa vào tìm hiểu thực trạng rác thải hiện nay để nhằm đưa ra giải pháp thiết thực, không gây hại cho môi trường lẫn sức khỏe con người. Đề tài hứa hẹn sẽ thành công và có thể áp dụng vào các hộ gia đình, nhà hàng, các nơi công cộng khác. Để rồi giải đáp được vấn đề cấp bách – nạn ô nhiễm môi trường, đồng thời tác động tích cực đến sự phát triển cả về kinh tế lẫn tinh thần của con người Việt Nam nói riêng và toàn thế giới nói chung. 

Tuy vậy, vấn nạn rác thải hữu cơ vẫn là vấn đề nhức nhối vì chưa có hướng giải quyết cụ thể và ý thức người dân chưa cao. Các loại rác thải hữu cơ bị người dân vứt tràn lan, gây mùi hôi khó chịu, đồng thời làm lan truyền nhiều mầm bệnh cho sinh vật. Một thực trạng nữa đó là người dân lạm dụng quá nhiều thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ cho vườn cây trồng mà không ý thức được tác hại mà nó mang lại. Một bộ phận người dân vẫn còn mang một số bộ phận của cây trồng, cỏ đã được cắt bỏ vứt xuống kênh rạch, xem dòng kênh là bãi đổ rác.


PHẦN MỞ ĐẦU

I- Giới thiệu chung: 

Ở Việt Nam, tốc độ phát sinh rác thải tùy thuộc vào từng loại đô thị và dao động từ 0,35 – 0,8 kg/người.ngày. Rác thải là sản phẩm tất yếu của cuộc sống được thải ra từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác như khám chữa bệnh, vui chơi giải trí của con người. Xử lý rác thải đã và đang trở thành một vấn đề nóng bỏng ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam 


II- Những khó khăn chủ yếu về việc quản lý và xử lý rác thải kém hiệu quả:
– Nguồn kinh phí đầu tư cho công tác xử lý rác thải, nhất là đối với rác thải độc hại là rất lớn. Vốn đầu tư này lại cần được huy động từ các nguồn ngân sách nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức Quốc tế, nguồn giúp đỡ của các Chính phủ và tổ chức phi chính phủ. Hiện nay, nhiều địa phương ở tỉnh ta đã có quy hoạch bãi chôn lấp rác, nhưng kinh phí đầu tư cho việc xây dựng bãi chôn lấp và xử lý rác thải theo yêu cầu bảo vệ môi trường lại thiếu nên không thực hiện được.
– Nhận thức về việc thu gom xử lý rác thải đối với cán bộ, nhân viên trực tiếp làm công tác này còn chưa cao, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu huỷ rác thải. Một số lãnh đạo cấp địa phương, doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến việc xử lý rác thải. Việc tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng chưa sâu rộng, từ đó đã gây sức ép không đáng có đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành.
– Môi trường thực thi pháp luật chưa thuận lợi mặc dù có Luật Bảo vệ môi trường; Chính phủ và các Bộ ngành đã có nhiều văn bản ban hành liên quan đến việc quản lý thu gom và xử lý rác thải ở khu vực thành thị, nông thôn, khu vực sản xuất công nghiệp, bệnh viện nhưng các văn bản này chưa thấm sâu vào đời sống xã hội. Nhiều địa phương, doanh nghiệp, lãnh đạo chưa quan tâm đầu tư kinh phí và phương tiện để thực hiện công tác này.
– Các giải pháp xử lý rác thải chưa đồng bộ, sự phối hợp liên ngành còn kém hiệu quả trong mọi công đoạn quản lý rác thải. Hoạt động giám sát của các cơ quan chức năng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở cấp địa phương còn lỏng lẻo, còn thiếu các biện pháp giáo dục nâng cao nhận thức và hệ thống chế tài hiệu quả để có thể khuyến khích các tổ chức, cá nhân, đơn vị tham gia vào lĩnh vực này.
– Năng lực cung cấp các dịch vụ quản lý rác thải nói chung và đặc biệt là rác thải độc hại ở các địa phương, doanh nghiệp không chỉ thiếu về số lượng mà chất lượng dịch vụ cũng còn chưa cao. Bên cạnh đó, các địa phương còn khó tiếp cận với các cơ sở cung cấp dịch vụ để xử lý rác thải, nhất là đối với rác thải độc hại.
Tỉ lệ rác thải không được xử lí và tái sử dụng ở Việt Nam chiếm lượng lớn. vậy nên chúng ta cần có biện pháp xử lí rác thải tốt
=> Tỉ lệ rác thải không được xử lí và tái sử dụng ở Việt Nam chiếm lượng lớn. vậy nên chúng ta cần có biện pháp xử lí rác thải tốt



Bài dự thi Khoa học kỹ thuật Intel-isef
Đề tài: Nuôi giun
xử lý rác thải sinh học

Nhóm thực hiện:
- Nguyễn Thị Phương Thảo (B)
- Nguyễn Thị Phương Thảo (A)
- Trần Gia Thanh


Giáo viên hướng dẫn
- Thầy Lê Qua
Giáo viên bảo trợ
- Thầy Châu Văn Mai


Thầy Lê Qua – giáo viên bộ môn Sinh Học, thầy Châu Văn Mai – giáo viên bộ môn Hóa học - Trường THPT Phú Bài đã tư vấn, hướng dẫn, giải quyết những khó khăn, giúp đỡ hoàn thiện đề tài hơn trong quá trình hình thành đề tài và thực hiện đề tài.
Gia đình bác Long đã hỗ trợ địa điểm để thực hiện đề tài của nhóm.
Các hộ gia đình ở các phường Phú Bài, Thủy Châu, Thủy Dương, Thủy Lương ,… đã cung cấp thông tin về thực trạng rác thải, thực trạng việc sử dụng thuốc trừ sâu ở các đồng ruộng trong các phường hiện nay.
Cuối cùng xin cám ơn
Ban tổ chức cuộc thi Khoa học- Kĩ thuật đã tạo điều kiện cho chúng em có một sân chơi lành mạnh và bổ ích để học sinh như chúng em có thể thể hiện và phát huy khả năng của mình. Xin cám ơn vì cuộc thi đã giúp chúng em biết thêm nhiều kiến thức mới, học hỏi, lĩnh hội nhiều điều hay, có được kĩ năng thao tác hoạt bát hơn.
Sự giúp đỡ về mọi mặt của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chấp hành Đoàn trường THPT Phú Bài để hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Thầy giáo chủ nhiệm, các thầy cô bộ môn, tập thể 10B11, bạn bè và gia đình đã quan tâm, động viên và giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài này.
Trường Trung học phổ thông Phú Bài – cái nôi kiến thức giúp em có nhiều điều kiện để học tập và phát triển.

XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!


Bãi rác ở Phường Phú Bài
Với việc quản lý và xử lý rác thải mặc dù đã có nhiều tiến bộ, cố gắng nhưng chưa ngang tầm với nhu cầu đòi hỏi. Hiện nay, ở khu vực đô thị mới chỉ thu gom đưa đến bãi chôn lấp tập trung đạt khoảng 60-65%, còn lại rác thải xuống ao hồ, sông ngòi, bên đường. Còn ở khu vực nông thôn, rác thải hầu như không được thu gom, những điểm vứt rác tràn ngập khắp nơi. Ở khu vực khám chữa bệnh, mặc dù đã có nhiều bệnh viện đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc cải thiện điều kiện môi trường theo hướng xanh, sạch, đẹp cùng với những thiết bị hiện đại để phục vụ tốt cho việc khám chữa bệnh của nhân dân, song vẫn còn những bất cập trong việc thu gom và tiêu huỷ rác thải, nhất là chất thải có các thành phần nguy hại. Đây cũng chính là nguy cơ tiềm ẩn đối với môi trường và con người.

Sau đây là một số biểu đồ thể hiện tình hình
rác thải của nước ta trong mấy năm qua
Ta dễ dàng nhận thấy sự gia tăng cao rõ rệt của rác thải qua từng năm
Hiện nay ở tất cả các thành phố,thị xã, đã thành lập các công ty môi trường đô thị có chức năng thu gom và quản lí rác thải. Nhưng hiệu quả của công việc thu gom, quản lý rác thải còn kém, chỉ đạt từ 30% - 70% do khối lượng rác thải sinh hoạt hàng ngày còn rất lớn. Trừ lượng rác đã quản lý số còn lại người ta đổ bừa bãi xuống sông, hồ, ngòi ao, khu đất trống làm ô nhiễm môi trường nước, đất và không khí.
Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế- xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đén suy giảm chất lượng môi trường và phát triển không bền vững. Lượng chất thải rắn phát sinh ngày càng tăng với nhiều thành phần phức tạp, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%. Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp 
Tỉ lệ thu gom rác thải ở Việt Nam đạt khoảng 31%. Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải kém hiệu quả đã và đang gây dư luận trong cộng đồng, đặt ra nhiều thách thức đối với nhiều cấp, ngành, đặc biệt là ngành môi trường. Tuy nhiên, giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều, vì chúng ta đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, bất cập và nhất là thiếu giải pháp đồng bộ.

II) Lý do chọn đề tài
Kết quả đánh giá: 36% hộ gia đình thực hiện phương pháp đốt rác, 53% là ném vứt, 2% là ủ sinh học, 10% là chọn xử lí bằng các biện pháp khác. Đa số người dân trong địa phương còn e ngại và có thành kiến về việc sử dụng giun để phân hủy rác
Thực tế khảo sát cho thấy, ngày nay có nhiều biện pháp để phân hủy rác, nhưng chúng ta chưa biết cách áp dụng sử dụng hợp lí. Điều đó thật đáng tiếc, nó ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế của đất nước, làm mất đi tính thẩm mĩ của cảnh quan, đồng thời tác động tiêu cực đến môi trường.
Chính vì vậy, chúng em quyết định làm đề tài này với mục đích giúp mọi người nhận ra được tính ưu việt của phương pháp sinh học này và giá trị kinh tế ứng dụng của trùn đất, qua đó giúp nhiều người hiểu rõ trách nhiệm của bản thân đối với môi trường.
Do đó, công trình nghiên cứu mang tính cấp thiết. Kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn, có thể áp dụng ngay cho mỗi hộ dân. Sự thành công của đề tài, có thể áp dụng ngay cho những nơi công cộng và đem lại những hiệu quả tốt đẹp, thân thiện với môi trường.

Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 1/3 tổng lượng chất thải sinh hoạt là chất thải hữu cơ có thể tái chế một cách dễ dàng.Chất thải hữu cơ là một loại nguyên liệu thô có giá trị có thể được chế biến thành phân ủ có chất lượng tốt nhất , đưa chất hữu cơ thiết yếu vào đất trồng.
Bất kì một hoạt động sống nào của con người tại nhà, công sở, trên đường đi, tại nơi công cộng…đều sinh một lượng rác đáng kề. Thành phần chủ yếu là chất hữu cơ, dễ phân hủy. Cho nên chất thải sinh hoạt có thể định nghĩa là thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi trường.

Trong 38/107 bệnh nhân có tiền căn tiếp xúc với thuốc trừ sâu, diệt cỏ thì gần 100% bệnh nhân này có tiền căn tiếp xúc hơn 1 năm. (Nguồn: khảo sát 107 trường hợp điều trị tại bệnh viện ung bướu tphcm 2009 -2010) 
2. Các giải pháp xử lí rác hữu cơ:
2.1/ Phương pháp đốt rác
- Ưu điểm: đơn giản, tiện dụng, xử lý triệt để các chỉ tiêu chất thải ô nhiễm có trong rác thải sinh hoạt,
+ Xử lý toàn bộ chất thải mà không tốn diện tích và thời gian xử lý chôn lấp
- Nhược điểm: ô nhiễm môi trường, sinh nhiều khí độc, gây tốn kém tiền bạc

2.2/ Phương pháp chôn lấp
- Ưu điểm: Công nghệ đơn giản, rẻ tiền, thích hợp với nhiều loại rác thải
- Nhược điểm: +Chiếm diện tích lớn 
+ Không được sự đồng tình của người dân xung quanh 
+ Nguy cơ gây ô nhiễm (đất, nước, không khí) rất cao
+ Chọn khu vực làm bãi chữa rác đạt tiêu chuẩn rất khó.

2.3/ Phương pháp ủ sinh học:
- Ưu điểm: 
+ Làm ổn định chất thải: trong quá trình ủ, chất thải chuyển sang trạng thái ổn định, khi chuyển chúng vào đất sẽ không gây ô nhiễm
+ Ức chế và tiêu diệt các mầm bệnh: trong quá trình ủ 3-4 ngày, nhiệt độ đống ủ tăng lên 50- 60oC=> vi sinh vật bị tiêu diệt 
+ Tăng dinh dưỡng cây trồng: các chất tồn tại dưới dạng hợp chất hữu cơ khi tồn tại
- Nhược điểm:
+ Chất lượng phân ủ thuộc rác thải đem ủ 
+ Quá trình ủ làm mất carbon và nitơ và thường tạo ra lượng nước ở đáy khối ủ và một lượng khí thải cần phải xử lý làm tăng chi phí

2.4/ Phương pháp sử dụng ruồi lính đen
- Ưu điểm:
+ Tốc độ phân hủy rác hữu cơ. Rau, củ, quả… được phân hủy trong 10-12h; chất thải có celluloze (giấy vụn, rơm…) được phân hủy trong 10-15 ngày. 
+ Giảm từ 80-90% lượng chất thải cùng bất kỳ mầm bệnh nào
+ Không gây mùi hôi, không tạo nguồn nước thải dụng ruồi lính đen:
- Nhược điểm : - Ấu trùng ruồi tiết ra chất nhờn là ổ vi trùng gây hại nên ảnh hưởng đến sức khỏe con người khi tiếp xúc 
+ Ruồi lính đen sau khi đẻ thì chết, vì vậy lượng ấu trùng không đảm bảo tính liên tục
+ Hiện nay vì nhiều người còn quan niệm ruồi là loài truyền bệnh có hại cho sức khỏe nên chưa được sử dụng rộng rãi

2.5/ Phương pháp sử dụng giun đất
- Ưu điểm: rác sinh học thải ra có thể làm thức ăn cho giun
+ Tận dụng rác thải biến chúng thành ngườn dinh dưỡng rất tốt cho cây trồng 
+ Hàm lượng dinh dưỡng cao, là thức ăn giàu đạm rất tốt cho gia súc và gia cầm
+ Sinh sản và sinh trưởng nhanh, dễ nuôi, chăm sóc, thích hợp với điều kiện khí hậu nước ta
+ Tiết kiệm chi phí, dễ làm, không gây hại cho môi trường
- Nhược điểm: 
+ Phải có người chăm sóc, nếu nuôi không hợp lí giun rất dễ bo đi hoặc chết
+ Nuôi với số lượng lớn thì tốn diện dích mặt bằng để xây thành, bể
=> Có thể áp dụng vào từng hộ gia đình, hoặc mở rộng ra làm thùng rác công cộng

Dựa vào những phân tích thực trạng trên
=>Vấn đề đặt ra là làm sao để có những giải pháp xử lí rác hữu cơ vừa đơn giản, tiết kiệm, đồng thời có ích với môi trường, không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Từ đó nhóm đã đưa ra đề tài với giải pháp sử dụng giun để xử lí rác hữu cơ

Ý NGHĨA THỰC TIỄN
1. Dự kiến những đóng góp:
- Có những nghiên cứu, mô hình thực hiện đề tài, phân tích kết quả nghiên cứu, từ đó ta có thể:
• Nâng cao tầm hiểu biết, nhận thức của học sinh nói riêng và toàn xã hội nói chung về các cách xử lí rác.
• Góp phần tuyên truyền, vận động, phát triển tiềm năng của đề tài – phương pháp xử lí rác tiện ích này với mọi người
2. Ý nghĩa khoa học: 
• Nguồn giun có sẵn trong tự nhiên, đối với phương pháp xử lí rác này, đem rất nhiều lợi ích và rất dễ thực hiện
• Phân giun có được sau khi xử lí rác đem lại sự phì nhiêu cho đất ,cải tạo cấu trúc của đất , giúp giữ nước đồng thời còn làm cho đất tiêu úng tốt . Nếu như loại chất thải này bị chôn lấp thì tiềm năng của chúng bị mất đi và các chất gây ô nhiễm này sẽ phát tán các khí như SO2, H2S,… vào không khí, nguồn nước, gây ô nhiễm môi trường .Dùng giun để phân hủy rác là một phương pháp có thể dễ dàng được sử dụng ngay tại nhà .
• Rác thải hữu cơ có thời gian phân hủy nhanh, công nghệ này có thể làm giảm thời gian thu gom, hạn chế sự phát tán ô nhiễm vào không khí, và tiết kiệm chi phí thu gom, phân loại và xử lí rác.
• Xử lý rác thải bằng cách nuôi giun là một công nghệ đơn giản, không đòi hỏi trình độ vận hành hay quản lý, trình độ kĩ thuật cao như những phương pháp xử lý khác.
=> Qua đó, đưa đến cho bạn trẻ cái nhìn khái quát hơn về phương pháp xử lí rác gần gũi với thiên nhiên hơn. Tạo cơ hội thuận lợi để mọi người dân trên địa bàn biết cách xử lí rác hữu cơ thích hợp, tạo nguồn phân bón cho cây trồng, tận dụng giun làm nguồn thức ăn cho cá, gia cầm, hay có thể tận dụng nguồn giun đó tăng thêm nguồn thu nhập kinh tế.

PHẦN NỘI DUNG
I) Mục đích

- Xử lí rác thải sinh hoạt mà chủ yếu là rác thải hữu cơ bằng biện pháp đơn giản, dễ làm, dễ thực hiện
- Giảm thiểu đáng kể thể tích rác thải cần phân loại và xừ lí
- Nghiên cứu mật độ giun đất (trùn quê) và thời gian giun đất (trùn quế) ăn rác, từ đó tìm ra điều kiện tối ưu để có chất lượng phân tốt nhất.
- Giúp mọi người nhận thức được ưu điểm của công nghệ.
- Nhân rộng công nghệ cho từng hộ gia đình.
- Tạo nguồn phân bón giàu dinh dưỡng
II) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ứng dụng:
1. Đối tượng nghiên cứu:
Nguồn trùn quế : cơ sở cung cấp.
Nguồn rác : rác thải sinh hoạt từ hộ gia đình.
Các hộ gia đình
2. Phạm vi nghiên cứu: 

- Trong khu vực Huế
- Học sinh và thanh niên ở địa bàn Hương Thủy
- Người dân ở các huyện, phường, thị xã trong khu vực Huế
3. Phạm vi ứng dụng: 

- Có thể áp dụng với quy mô nhỏ như hộ gia đình
- Ngoài ra còn có thể áp dụng làm thùng rác công cộng
=> Áp dụng được cho tất cả mọi đối tượng, phạm vi

III- Phương pháp nghiên cứu:
- Bao gồm các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp quan sát, theo dõi
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá
+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp khảo sát, điều tra bằng các cuộc phỏng vấn trắc nghiệm với người dân địa phương.

IV - Nghiên cứu về giun đất ( trùn quế):

1. Đặc điểm sinh học: 
Giun Quế thuộc chi Pheretima, họ Megascocidae (họ cự dẫn), ngành ruột khoang; giun trưởng thành dài khoảng từ 10 – 15 cm, thân mảnh giống sợi len, có đường kính vòng thân 1,5 - 2,0 mm; có màu nâu tím ánh bạc; đếm kỹ thân có tới 120 đốt; phía gần đuôi có 1 cái đai, gọi là đai sinh dục, đai này nằm từ đốt thứ 18-22. Chúng là nhóm giun ăn phân, thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy. Đây là loài giun mắn đẻ, xuất hiện rải rác ở vùng nhiệt đới, dễ bắt bằng tay, vì vậy rất dễ thu hoạch. Chúng được sử dụng rộng rãi trong việc xử lý, chuyển hóa chất thải hữu cơ. 
Giun Quế có khả năng hấp thu Oxy và thải CO2 trong môi trường nước, điều này giúp cho chúng có khả năng sống trong nước nhiều tuần, thậm chí trong nhiều tháng. Hệ thống bài tiết bao gồm một cặp thận ở mỗi đốt. Các cơ quan này bảo đảm cho việc bài tiết các chất thải chứa đạm dưới dạng Amoniac và Ure. Giun Quế nuốt thức ăn bằng môi ở lỗ miệng, lượng thức ăn mỗi ngày được ghi nhận là tương đương với trọng lượng cơ thể của nó.
Giun Quế rất nhạy cảm, chúng phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt độ và biên độ nhiệt cao, độ mặn và điều kiện khô hạn. Nhiệt độ thích hợp nhất với giun Quế trong khoảng từ 20 – 30oC, ở nhiệt độ khoảng 30oC và độ ẩm thích hợp, chúng sinh trưởng và sinh sản rất nhanh. Ở nhiệt độ quá thấp, chúng sẽ ngừng hoạt động và có thể chết; hoặc khi nhiệt độ của luống nuôi lên quá cao, chúng cũng bỏ đi hoặc chết. Chúng có thể chết khi điều kiện khô và nhiều ánh sáng nhưng chúng lại có thể tồn tại trong môi trường nước có thổi Oxy. 
Trong tự nhiên, giun Quế thích sống nơi ẩm ướt và có độ pH ổn định, gần cống rãnh, hoặc nơi có nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy và thối rữa như trong các đống phân động vật, các đống rác hoai mục. Qua các thí nghiệm thực hiện, cho thấy chúng thích hợp nhất pH vào khoảng 7.0 – 7.5, nhưng chúng có khả năng chịu đựng được phổ pH khá rộng, từ 4 – 9, nếu pH quá thấp, chúng sẽ bỏ đi. Chúng rất ít có mặt trên các đồng ruộng canh tác, dù nơi đây có nhiều chất thải hữu cơ vì tỷ lệ C/N của những chất thải này thường cao, không hấp dẫn và không đảm bảo điều kiện độ ẩm thường xuyên. Giun Quế thích nghi với phổ thức ăn khá rộng. Chúng ăn bất kỳ chất thải hữu cơ nào có thể phân hủy trong tự nhiên (rác đang phân hủy, phân gia súc, gia cầm…). Tuy nhiên, những thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao, giúp cho chúng sinh trưởng và sinh sản tốt hơn, sẽ hấp dẫn chúng hơn. 
Giun Quế là sinh vật lưỡng tính, sinh sản rất nhanh trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đối ổn định và có độ ẩm cao. Khả năng sinh sản này đảm bảo cho sự duy trì mật độ và khả năng xử lý khá ổn định.

2. Gía trị kinh tế, ứng dụng
2.1/ Gía trị kinh tế:
Hiệu quả kinh tế mà giun quế mang lại là rất cao
- Vốn đầu tư nuôi giun chỉ cần rất ít (nuôi để dùng trong chăn nuôi gia đình chỉ cần vài trăm ngàn đến một vài triệu đồng; Nuôi giun hàng hóa cần vài ba triệu đồng, đến một vài chục triệu đồng); Chi phí đầu tư nuôi giun không lớn. Mặt bằng nuôi giun có thể tận dụng bất kỳ khoảng không gian nào.
- Thức ăn để nuôi giun chủ yếu tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có nhờ rác hữu cơ (rau, củ, hoa, quả…), phân trâu, bò… rất dồi dào và rẻ tiền. Nuôi giun ít bị bệnh, ít rủi ro, kỹ thuật đơn giản, dễ làm, sớm có thu nhập. Đồng thời nuôi giun tốn ít công chăm sóc. Vì vậy giá thành sản xuất giun và phân giun rất thấp. Nếu sản xuất hàng hóa để bán thì có lợi nhuận đáng kể, mang lại giá trị kinh tế cao.
- Giun và phân giun có nhiều tác dụng như: Là nguồn thức ăn chăn nuôi chất lượng cao và nhiều công dụng cho nhiều loại gia súc, gia cầm, thủy sản; là nguồn phân hữu cơ sạch và quí đối với cây trồng (nhất là hoa, cây cảnh…); Giun còn là nguồn nguyên liệu để sản xuất và chế biến thực phẩm, thực phẩm chức năng, dược phẩm, mĩ phẩm…với nhu cầu rất lớn cả với thị trường trong nước và xuất khẩu. Chính vì vậy đầu ra cho việc nuôi giun hàng hóa là vô cùng thuận lợi.
Nói về lợi ích của con giun quế, ông Lý cho biết, thức ăn nuôi giun quế chủ yếu là phân lợn, phân gà vịt hoặc rơm rạ đã mục nát nên giá thành rẻ. Nuôi giun quế vừa tận dụng được những sản phẩm thừa trong sản xuất nông nghiệp, vừa góp phần bảo vệ môi trường. Hơn nữa, con giun quế mang lại giá trị kinh tế cao, mỗi kg giun quế có giá từ 150.000 – 200.000 đồng. Từ chỗ, chỉ nuôi thử nghiệm 20kg giun quế trong diện tích 6m2, đến nay, ông Lý phát triển thành một khu chuồng trại có diện tích 600m2. Đây được xem là mô hình nuôi giun quế lớn nhất miền Bắc và ông được nhiều người gọi là ―vua giun quê. Kết hợp nuôi giun quế, ông nuôi thêm gà và vịt để tận dụng phân giun làm thức ăn cho gà vịt. Khi trộn phân giun với cám làm thức ăn cho gà vịt, ông giảm được 50 % chi phí mua cám tăng trọng. Hàng năm, ông xuất ra thị trường hàng tạ giun, thu về hàng trăm triệu đồng. Năm 2009, ông bán hơn 5 tạ giun, với giá 200.000 đồng/kg, ông thu hơn 100 triệu đồng. Cộng thêm tiền bán gà vịt, trừ mọi chi phí ông thu lãi hơn 150 triệu đồng. 

2.2/ Gía trị ứng dụng:
Ngoài những thành phần dinh dưỡng cơ bản (Protein: 47,24%; Lipit: 11,56%; Celluloze:6,53%...) trong thịt giun đất (trùn quế) còn có một lượng axit glutamic đáng kể (8%). Đây chính là thành phần cơ bản của bột ngọt hay mì chính nên khi sử dụng làm thức ăn chăn nuôi thì vật nuôi ăn khỏe, chóng lớn, đẻ khỏe, ít bệnh tật và sẽ cho thịt thơm ngon hơn hẳn so với vật nuôi thông thường

Nhìn vào bảng ta thấy hàm lượng N, P, K trong phân giun hầu hết đều cao hơn trong các loại phân của các loại gia súc. Vì vậy, phân giun có thể xem là một nguồn phân bón cao đạm rất tốt cho các hoạt động trồng trọt và cải tạo đất…
Đồng thời giun còn cung cấp dịch giun (worms juice ) là sản phẩm từ quá trình bài tiết của giun - là một sản phẩm của thiên nhiên ở dạng lỏng, dịch giun rất giàu vi khuẩn cố định đạm, các vi khuẩn có lợi, cộng với chất lỏng có sẵn khoáng chất và nguyên tố vi lượng rất tốt cho cây trồng hấp thụ. Dịch giun cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và khoáng chất (trên 60 yếu tố khác nhau cung cấp rất nhiều các yêu cầu của các loại cây trồng). Đây là enzyme trong các hệ thống tiêu hóa của con giun, tất cả các chất dinh dưỡng và nguyên tố vi lượng này đều tan trong nước tiểu của giun và giun bài tiết ra ngoài. Dịch tiết ra từ giun có đầy đủ hàm lượng các chất dinh dưỡng tốt cho cây trồng, cả đa lượng và vi lượng. Hàm lượng chất không lớn, đồng thời lượng tiết từ giun cũng không nhiều nên cây trồng khi được áp dụng dịch giun thì vẫn nên duy trì lượng phân bón bình thường, dịch giun chỉ có tác dụng vì nó chứa các vi khuẩn có lợi giúp tiêu diệt sâu bọ phá cây trồng và bổ sung thêm một phần các chất khác đặc biệt là vi lượng cho cây trồng phát triển cân đối hơn.

Phân giun là một loại phân hữu cơ thiên nhiên giàu chất dinh dưỡng nhất mà con người từng biết đến. Phân giun thích hợp với nhiều loại cây trồng, chúng chứa các khoáng chất mà cây trồng có khả năng hấp thụ một cách trực tiếp mà không cần quá trình phân huỷ trong đất như những loại phân hữu cơ khác. Chất mùn trong phân giun còn loại trừ độc tố nấm có hại và vi khuẩn trong đất nên nó có thể đẩy lùi những bệnh của cây trồng. Phân giun còn gia tăng khả năng giữ nước của đất, chống xói mòn. Đặc biệt phân giun thích hợp bón cho các loại hoa kiểng, làm giá thể vườn ươm và là nguồn phân thích hợp cho việc sản xuất rau sạch.
V - Đề tài xử lí rác hữu cơ với sự tham gia của giun 
Giun có sức tiêu hóa lớn. Tác dụng phân giải hữu cơ của giun chỉ đứng sau các vi sinh vật. Một tấn giun có thể tiêu hủy được 70 – 80 tấn rác hữu cơ, hoặc 50 tấn phân gia súc trong một quý. Các nước trên thế giới đã tận dụng cơ năng đặc thù này của giun để xử lý chất thải sinh hoạt hoặc rác thải hữu cơ, làm sạch môi trường,có hiệu quả tốt.
Sau khi qua hệ thống tiêu hóa với nhiều vi sinh vật cộng sinh, chúng thải phân (Vermicas) ra ngoài rất giàu dinh dưỡng (hệ số chuyển hóa ở đây vào khoảng 0.7). Những vi sinh vật cộng sinh có ích trong hệ thống tiêu hóa này theo phân ra khỏi cơ thể giun nhưng vẫn còn hoạt động ở “màng dinh dưỡng” trong một thời gian dài. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho phân giun có hàm lượng dinh dưỡng cao và có hiệu quả cải tạo đất tốt hơn dạng phân hữu cơ phân hủy bình thường trong tự nhiên. 
Do có hàm lượng Protein cao nên Trùn quế được xem là nguồn dinh dưỡng bổ sung quý giá cho các loại gia súc, gia cầm, thủy hải sản… Ngoài ra, Trùn quế còn được trong y học, công nghệ chế biến thức ăn gia súc… 
Phân trùn là loại phân hữu cơ sinh học có hàm lượng dinh dưỡng cao, thích hợp cho nhiều loại cây trồng, không gây ra tình trạng “sốc” phân, yêu cầu trữ dễ dàng, đặc biệt thích hợp cho các loại hoa kiểng, làm giá thể vườn ươm và là nguồn phân thích hợp cho việc sản xuất rau sạch.
Quá trình sản xuất phân từ rác thải tận dụng được tất cả các sản phẩm của quá trình, hoàn trả vật chất lại cho tự nhiên. Đây là công nghệ sạch, thân thiện môi trường.

VI- Triển khai đề tài, các thí nghiệm theo dõi và đánh giá:
- Triển khai đề tài:
+ Phân loại rác: Chọn lấy rác có thành phần hữu cơ ( Cơm, bánh mì, rau, lá cây, vỏ rau củ quả...)
+ Dụng cụ: đất, giun đất ( trùn quế ), thùng đựng, rác hữu cơ, giấy đo PH
+ Tiến hành: Bỏ giun và đất vào tầng 1 của thùng đựng, phía trên tầng 2 của thùng ta đựng rác, để rác rơi xuống lỗ ở thùng xuống tầng 1, cho giun phân hủy, để một thời gian, theo dõi và quan sát.
+ Đánh giá, phân tích: Thời gian ( Với 1 kg giun thì 0,5 kg rác sinh học được xử lý trong 2 tuần ), phân tích mùi ( chỉ có mùi chua nhẹ, không gây thối làm ô nhiễm môi trường không khí, không sinh ra khí độc như S02, H2S... ), phân giun nhiều mù, chứa nhiều chất photpho, kẽm, ... độ PH ổn định thích hợp với nhiều giống cây, không gây ra hiện tượng sốc phân )
=> Đề tài hoàn toàn thân thiện với môi trường, tiết kiệm rát nhiều kinh phí lẫn thời gian so với các phương pháp xử lí rác khác
1. Ban đầu
2. Sau 1 tuần
Mô hình nuôi giun phân hủy rác sinh học
Ngoài ra, giun còn phân hủy lá khô và giấy

- Thứ nhất, chi phí đề thực hiện đề tài này rất thấp, không tốn kém, không cầu kì, phức tạp, dễ làm rất nhiều so với các biện pháp xử lí rác khác
- Thứ hai, thức ăn nuôi giun chủ yếu tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có từ rác hữu cơ ( rau, củ, hoa, quả, vỏ trái cây bỏ, rơm rạ, cơm thừa, phân gia cầm…) rất dồi dào và rẻ tiền
- Thứ ba, nuôi giun ít bị bệnh,không yêu cầu kĩ thuật, ít rủi ro, dễ làm, sớm có kết quả 
- Thứ tư, có thể áp dụng cho từng hộ gia đình nhỏ, giun có thể biến thức ăn thừa thành loại phân bón hữu ích cho cây trồng, đồng thời giảm lượng rác ở bãi chôn lấp 
- Thứ năm, phân giun được tạo thành không gây mùi hôi thối, giàu chất dinh dưỡng, đồng thời còn có tác dụng điều hòa môi trường đất rất tốt, giúp cây phát triển ngay cả khi độ pH quá cao hoặc thấp, mùn trong phân giun trừ được những độc tố, vi khuẩn,.. gây hại cho cây
- Thứ sáu, giun sống trong đất sẽ làm tăng độ phì nhiêu của đất. Phân giun góp phần làm giảm mức sử dụng phân hoá học, giúp cây trồng phát triển tốt, tăng khả năng chống sâu bệnh, giảm bớt việc sử dụng thuốc trừ sâu, nhờ đó bảo vệ được môi trường. Với những khu vực nước bị ô nhiễm, nếu nuôi giun cũng làm sạch được môi trường nước. 
- Thứ bảy, hơn nữa, giun đất có thể xử lý chất thải hữu cơ, phân gà, phân lợn, phân bò và chuyển hóa thành phân bón hữu cơ có chất lượng cao, và bằng cách đó cải thiện môi trường sinh thái các vùng nông thôn

VII- Đánh giá các điểm nổi bật của đề tài :

Việc ứng dụng đề tài “ nuôi giun xử lí rác sinh học” không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, mà còn tạo ra một vòng tuần hoàn sinh học trong tự nhiên, góp phần bảo vệ môi trường đang ngày càng bị hủy hoại bởi lượng rác thải rất lớn từ các đô thị.

PHẦN KẾT LUẬN
Đề tài còn đảm bảo đầy đủ tiêu chí bền vững:
=> Đề tài này cần được nhân ra sử dụng rộng rãi, bỏ qua thành kiến về giun

Với các kết quả nghiên cứu từ cơ sở lý thuyết và thực tế, hướng phát triển của đề tài như sau:
• Tiếp tục nghiên cứu để tạo nền tảng cho các phướng án xử lí rác khác. Qua đó, không chỉ đưa đê tài này ngày một phổ biến rộng rãi hơn mà còn phát triển hoàn thiện hơn.
• Tiếp tục nghiên cứu hướng phát triển đề tài bằng cách nghiên cứu sâu hơn về các mô hình của đề tài, để đưa ra những giải pháp phát huy tối ưu giá trị của dự án một cách sáng tạo, độc đáo và toàn diện hơn.
• Đúc kết các thông tin tìm hiểu qua thực tế, để đưa ra nhiều hướng bổ sung cho đề tài hoàn thiện hơn.
• Áp dụng những giải pháp đã đựơc nghiên cứu cho nhều hộ gia đình lẫn các nơi công cộng ở trong nước, qua đó giúp mọi người hiểu và biết rõ hơn dự án “ Nuôi giun xử lí rác sinh học” và trách nhiệm của mình với Trái đất, đồng thời thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội ngày một đi lên. 
• Áp dụng những giải pháp nghiên cứu một cách phù hợp trong nhà trường nhằm nâng cao tầm nhận thức của học sinh về trách nhiệm gìn giữ và bảo môi trường “Xanh- Sạch -Đẹp”

HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI

• Thành phần phân sau xử lý có thể sử dụng để trồng trọt và chăn nuôi, vì vậy, cần có một kế hoạch sử dụng hiệu quả nguồn phân bùn này. 
• Tăng gia sản xuất tại hộ gia đình.
• Liên kết cung cấp cho các nhà vườn, cơ sở thu mua.
• Để tăng khả năng nhân rộng, cần có một chính sách hỗ trợ các hộ gia đình (giảm chi phí thu gom rác,…), chương trình giới thiệu công nghệ.




- Nguyễn Lân Hùng, năm 2006, Một số đặc điểm của trùng đất, http://longdinh.com/default.asp?act=chitiet&ID=3003&catID=2
- Viện chăn nuôi quốc gia Việt Nam, 2009
- Khảo sát 107 trường hợp điều trị tại bệnh viện ung bướu tphcm 2009 -2010
- Đặc tính sinh lý học cua giun quế http://traigiunquepht.com/home/detail.asp?iData =1011&nChannel=News 
- Thoát nghèo nhờ nuôi giun quế, http://www.baomoi.com/Thoat-ngheo-nho-nuoi-giun-que/45/4143294.epi



TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Qua các cuộc phỏng vấn nhóm thu được các kết quả sau:
Một số hình ảnh người dân sử dụng thuốc trừ sâu, vứt bừa bãi ở các đồng ruộng gây ô nhiễm môi trường
Cảm ơn quý vị và quý thầy cô giáo đã chú ý lắng nghe
Chúc hội thi thành công tốt đẹp
 Từ khóa: khoa hoc ky thuat, Intel-isef

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

 


HỖ TRỢ DẠY VÀ HỌC


TIN NỔI BẬT
ĐỌC MỌI THỂ LOẠI TIN TỨC TẠI ĐÂY
global html
Code Buy Transfer Sell
AUD 16,632.18 16,732.58 16,915.25
CAD 17,353.24 17,510.84 17,702.02
CHF 22,843.21 23,004.24 23,301.94
DKK - 3,473.44 3,582.30
EUR 26,116.27 26,194.85 26,585.86
GBP 29,944.32 30,155.41 30,423.72
HKD 2,932.91 2,953.59 2,997.80
INR - 322.52 335.17
JPY 198.52 200.53 205.54
KRW 18.94 19.94 21.19
KWD - 76,450.19 79,449.59
MYR - 5,526.51 5,598.03
NOK - 2,703.14 2,787.86
RUB - 341.58 380.62
SAR - 6,196.79 6,439.91
SEK - 2,544.13 2,608.17
SGD 16,683.71 16,801.32 16,984.75
THB 694.59 694.59 723.56
USD 23,260.00 23,260.00 23,350.00
LIÊN KẾT DẠY VÀ HỌC
LOGO HARVARD



LIÊN KẾT WEBSITE
HỌC NHANH TIẾNG NHẬT
 
 

VÌ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VIỆT

NGHỀ GIÁO .NET
GIÁO DỤC VIỆT .NET
VIỆT CÔNG NGHỆ .COM
GIÁO DỤC .NET.VN
GIÁO DỤC .EDU.VN
MẠNG GIÁO DỤC
THÔNG TIN TỪ BỘ GD
BÁO GIÁO DỤC  VÀ THỜI ĐẠI
TƯ LIỆU GIÁO DỤC
CÔNG ĐOÀN GD VIỆT NAM
DẠY HỌC INTEL.NET
DẠY VÀ HỌC NGÀY NAY

 

THẾ GIỚI TRỰC TUYẾN

BÁC SỸ TRỰC TUYẾN
LUYỆN THI TRỰC TUYẾN
ĐỌC BÁO TRỰC TUYẾN
KARAOKE TRỰC TUYẾN
ĐIỆN HOA TRỰC TUYẾN
BẢO HIỂM TRỰC TUYẾN
ĐỌC TRUYỆN TR. TUYẾN
THANH TOÁN TR. TUYẾN
DU LỊCH TRỰC TUYẾN
NHÀ SÁCH TRỰC TUYẾN
HỌC TIN TRỰC TUYẾN
HỌC GHITA TRỰC TUYẾN
SÀN TRỰC TUYẾN
HẢI QUAN TRỰC TUYẾN
HÁN VIỆT TRỰC TUYẾN
MUA VÉ TRỰC TUYẾN
QUÉT VIRUT TRỰC TUYẾN
NGÂN HÀNG TRỰC TUYẾN
TRA LỊCH TRỰC TUYẾN
THƯ VIỆN LUẬT TR.TUYẾN
XEM BÓI TRỰC TUYẾN

THẾ GIỚI UPLOAD FILE

4shared.com
mediafire.com
box.com
fshare.vn
rapidshare.com
danhbahosting.com
flashupload.com
upanh.com
up.anhso.net
imageshack.us

 

global rate
global QR code
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây