CHÍ PHÈO

Thứ sáu - 18/11/2016 10:57
Thông qua việc xây dựng hình tượng nhân vật Chí Phèo bị lưu manh hoá và bị cự tuyệt quyền làm người, nhà văn cho ta thấy được cuộc đời và số phận bi thảm của người dân Việt Nam thời trước Cách mạng,
NAM CAO
A. KIẾN THỨC CƠ BẢN
I. TÁC GIẢ
Tham khảo bài Nam Cao
II. TÁC PHẨM
1. Xuất xứ
Truyện ngắn Chí Phèo nguyên có tên là Cái lò gạch cũ ; khi in thành sách lần đầu (NXB Đời mới, Hà Nội, 1941), nhà xuất bản tự ý đổi tên là Đôi lứa xứng đôi. Đến khi in lại trong tập Luống cày (Hội Văn hoá cứu quốc xuất bản, Hà Nội, 1946), tác giả đặt lại tên là Chí Phèo.
2. Tóm tắt tác phẩm
Chí Phèo là một đứa trẻ mồ côi, bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ được người dân làng Vũ Đại nhặt về nuôi nấng. Đến năm 20 tuổi Chí Phèo đi ở làm canh điền cho nhà bá Kiến. Chí Phèo thường xuyên được bà ba – vợ của bá Kiến – gọi lên bóp chân. Do ghen tức với Chí Phèo, bá Kiến đã tìm cách đẩy Chí Phèo đi tù.
Sau mấy năm đi tù, Chí trở về làng nhưng đã thay đổi hoàn toàn từ ngoại hình đến tính tình. Chí trở thành một thằng lưu manh chuyên nghề rạch mặt ăn vạ. Sau lần thứ hai đến ăn vạ nhà bá Kiến, Chí bị lão ta lừa gạt, lợi dụng, biến thành tay say đắc lực cho mình. Từ đó, Chí càng hung hăng, gây biết bao tội ác để rồi trở thành “quỷ dữ” trong con mắt của dân làng.
Một đêm trăng sáng, như mọi khi, Chí lại say và sau khi uống rượu với Tự Lãng, hắn ngật ngưỡng trở về túp lều của mình ở vườn chuối ven sông. Ở đây, Chí đã gặp thị Nở, một nười đàn bà xấu xí, dở hơi đang nằm ngủ dưới gốc chuối. Chí ăn nằm với thị Nở. Sau đêm gặp thị Nở, nhất là sau trận ốm, khi thị Nở mang nồi cháo hành đến, Chí đã thức tỉnh và hắn đã xúc động, khát khao hoàn lương.
Thị Nở ở nhà Chí đúng năm ngày chẵn, ở cả ngày lẫn đêm, trừ những lúc đi kiếm tiền. Đến hôm thứ sáu, thì thị bỗng nhớ rằng thị còn có một người cô ở đời. Thị nghĩ bụng : hãy dừng yêu để hỏi cô thị đã. Nghe lời bà cô, thị đã cự tuyệt với Chí khiến hắn đau đớn, thất vọng. Và trong cơn phẫn uất, hắn đã đến nhà bá Kiến, đòi lương thiện rồi đâm chết lão cường hào ác bá này. Sau đó, hắn tự sát.
3. Những nội dung chính
Tác phẩm Chí Phèo phản ánh về cuộc đời bi thảm của người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 mà điển hình là nhân vật Chí Phèo. Cuộc đời và số phận của Chí Phèo được miêu tả qua hai quá trình : quá trình bị tha hoá và quá trình hồi sinh nhưng lại bị cự tuyệt quyền làm người.
a). Vốn dĩ Chí Phèo là một người nông dân hiền lành, lương thiện nhưng từ khi đi tù về hắn đã trở thành một thằng lưu manh. Hắn nguyên là một đứa trẻ mồ côi, được người dân làng Vũ Đại nhặt về nuôi. Năm 20 tuổi, Chí làm canh điền cho nhà bá Kiến. Khi đó, Chí “hiền lành như đất”, thậm chí còn nhút nhát. Chí cũng từng có những mơ ước giản dị và lương thiện : “một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn, cày thuê. Vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Nhưng, chỉ vì ghen tức với Chí mà bá Kiến đã đẩy Chí đi tù. Chỉ qua mấy năm, nhà tù thực dân đã biến Chí thành một tên lưu manh với những cơn say triền miên và chuyên nghề rạch mặt ăn vạ. Hơn thế nữa, sau khi ra tù, hắn còn bị bá Kiến biến từ một thằng lưu manh trở thành một con “quỷ dữ” trong con mắt của dân làng Vũ Đại. Chí đã trở thành tay say cho bá Kiến và ngày càng hung hăng hơn. Trong những cơn say triền miên, Chí đã tự huỷ hoại nhân hình và nhân tính của mình. Đây chính là bi kịch bị tha hoá của Chí bởi hắn tự huỷ hoại con người mình mà không hề hay biết, lại còn lấy đó làm vênh vang, đắc chí. (Điều này mãi đến khi tỉnh rượu, Chí mới thật sự thấm thía nhận ra, cảm thấy đau đớn và … “ăn năn”).
b). Cứ tưởng Chí Phèo mãi mãi sống kiếp thú vật, rồi kết thúc cuộc đời bằng cách vùi xác tại một bờ bụi nào đó. Nhưng không, sau cuộc gặp gỡ thị Nở, trải qua một cuộc tình và một trận ốm, phần “Người” bị vùi lấp bấy lâu của Chí đã hồi sinh và trổi dậy. Chí đã cảm nhận được những tín hiệu của cuộc sống xung quanh. Chí đã nhớ lại quãng đời và những ước mơ trước đây của mình. Hắn đã khao khát hoàn lương và làm người lương thiện : “Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao !”… Và, ai sẽ giúp Chí trở về với bản chất lương thiện ? Chính thị Nở, “Thị Nở sẽ mở đường cho hắn”. Chính tấm lòng và bát cháo hành của thị đã giúp cho Chí “thấy mắt hình như ươn ướt”, biết “ăn năn”, thấy “lòng thành trẻ con” và khi tỉnh táo “hắn cười nghe thật hiền”…
Rõ ràng, tấm lòng của thị Nở đã đánh thức trong Chí cái lương tri và tính người. Chi tiết này đã nói lên một quan niệm mang tính nhân văn của nhà văn : chỉ có tình người mới cứu vớt được tính người. Và đây cũng chính là chi tiết nghệ thuật độc đáo trong truyện. Chỉ bát cháo hành thôi, nó lại được bàn tay của một người đàn bà xấu “ma chê quỷ hờn” nấu nhưng kì lạ nó lại trở thành một liều thuốc hồi sinh rất kì diệu và công hiệu.
Tiếc thay, đang trên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời lương thiện thì Chí lại rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Xã hội không chấp nhận Chí nữa, cả làng Vũ Đại cũng không chấp nhận. Thị Nở cũng nghe lời cô mình mà cự tuyệt Chí một cách phũ phàng. Chí đau đớn, phẫn uất và rơi vào tuyệt vọng. Chí chỉ còn một cách là cầm dao đi đòi lương thiện. Rồi Chí đến nhà bá Kiến – kẻ đã hại cuộc đời Chí – để giết chết hắn và tự kết liễu đời mình. Hành động của Chí là tất yếu, không phải là hành động mù quáng do hơi men mà là kết quả của việc Chí đã hồi sinh, nhận ra cảnh ngộ bi thảm của mình và nhận ra ai là kẻ chủ yếu hại cuộc đời mình. Chí cũng nhận ra, kẻ thù đâu chỉ riêng bá Kiến mà là cả cái xã hội phi nhân tính bấy giờ. Cho nên, hành động tự sát của Chí cũng là tất yếu, là sự giải thoát duy nhất cho chính hắn.
Khác với nhiều nhà văn hiện thực đương thời thường đi sâu miêu tả sự bần cùng hoá của người dân, Nam Cao đi sâu phản ánh quá trình tha hoálưu manh hoá và bị cự tuyệt quyền làm người của người dân trong xã hội cũ. Chính vì thế truyện Chí Phèo có sức tố cáo mạnh mẽ chế độ thực dân nửa phong kiến tàn bạo đã cướp đi cả nhân hình và nhân tính vốn lương thiện của con người. Tuy nhiên, qua đó nhà văn cũng đã phát hiện và trân trọng bản chất tốt đẹp của người nông dân dù bị xã hội đẩy vào con đường lưu manh hoá. Điều này đã làm nên giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc cho tác phẩm. 
4. Đặc sắc nghệ thuật
Bằng cái nhìn tinh tế, một trí tuệ sâu sắc và tinh thần sáng tạo “khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có”, Nam Cao đã khắc hoạ thành công một thực tế đã trở thành quy luật ở nông thôn Việt Nam thời trước Cách mạng : một bộ phận người dân bị lưu manh hoá. Nhà văn cũng đã thành công xuất sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình. Nhân vật Chí Phèo không chỉ là một nhân vật mà còn trở thành tên gọi chung cho một loại người, trở thành một hiện tượng xã hội. Ngoài ra, thành công của thiên truyện này còn phải kể đến nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, nghệ thuật kể chuyện mới lạ, những đoạn đối thoại và độc thoại được kết hợp nhuần nhị…
5. Chủ đề tư tưởng
Thông qua việc xây dựng hình tượng nhân vật Chí Phèo bị lưu manh hoá và bị cự tuyệt quyền làm người, nhà văn cho ta thấy được cuộc đời và số phận bi thảm của người dân Việt Nam thời trước Cách mạng, đồng thời, qua đó nhà văn thể hiện niềm cảm thông và trân trọng đối với họ. Tác phẩm cũng đã góp thêm tiếng nói tố cáo mạnh mẽ bản chất tàn bạo của xã hội thực dân phong kiến đối với con người Việt Nam ta.
 
III. Luyện tập
Đề . Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao từ buổi sáng sau khi gặp thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời để thấy rõ bi kịch của nhân vật này.
Gợi ý bài làm
  1. Mở bài
-  Nam Cao là nhà văn hiện thực lớn, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. Trong văn xuôi Việt Nam hiện đại, Nam Cao là nhà văn có phong cách độc đáo. Đặc biệt, ông luôn có hứng thú khám phá “con người trong con người” và có biệt tài diễn tả, phân tích tâm lí nhân vật…
-  Tác phẩm Chí Phèo là một thành công xuất sắc cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật truyện ngắn của Nam Cao.
  1. Thân bài
1. Tóm tắt vài nét về cuộc đời và số phận của Chí Phèo trước khi gặp thị Nở :
Chí Phèo vốn mồ côi, sau được người dân làng Vũ Đại đem về nuôi. Lớn lên đi làm canh điền cho bá Kiến. Bị bá Kiến ghen ghét, đẩy đi tù. Khi trở về, Chí trở thành một thằng lưu manh, rồi thành tay sai cho bá Kiến.
2. Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo từ buổi sáng sau khi gặp thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời :
-  Sau khi gặp thị Nở, sáng hôm sau Chí Phèo tỉnh rượu và dần tỉnh ngộ. Chí cảm nhận được cuộc sống xung quanh, ý thức được cuộc đời và số phận của mình.
-  Được thị Nở quan tâm chăm sóc và cho ăn bát cháo hành, Chí cảm động trước tình người ấm áp của thị. Chí Phèo ao ước được sống chung mãi với thị và khao khát được trở lại làm người lương thiện – một biểu hiện nhân tính của Chí được hồi sinh.
-  Nhưng khi thị Nở nghe theo lời cô của mình mà cự tuyệt với Chí, Chí đau đớn và rơi vào tuyệt vọng. Trong cơn phẫn uất, Chí tìm đến rượu, nhưng lần này càng uống Chí lại càng tỉnh. Chí nhận ra rất rõ tình thế bi kịch của mình, xách dao đến nhà bá Kiến, giết chết tên cường hào ác bá ấy rồi tự kết liễu cuộc đời mình – một kết cục tất yếu cho cuộc đời của Chí.
3. Nghệ thuật : miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo ; xây dựng nhân vật và khắc hoạ tính cách nhân vật mang tính điển hình ; nghệ thuật trần thuật tự nhiên, lôi cuốn…
  1. Kết bài
-  Những diễn biến tâm trạng và bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo đã cho thấy tình trạng thê thảm của người dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Đồng thời, qua đó nhà văn cũng phát hiện và trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của họ.
-   Hình tượng nhân vật và những nét tâm trạng điển hình của nhân vật được miêu tả sâu sắc, tinh tế qua ngòi bút nhân đạo chủ nghĩa và tài hoa của nhà văn Nam Cao.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Bài văn tham khảo
Nam Cao là người hay băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người. Ông thường dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục chỉ vì bị đọa đày vào cảnh nghèo đói cùng đường” (Nguyễn Đăng Mạnh). Với tấm lòng nhân đạo ấy, Nam cao đã khước từ thứ văn chương lãng mạn để đến với dòng văn học hiện thực. Đây cũng chính là nơi Nam Cao đã kí thác toàn bộ những tâm tư tình cảm, triết lí nhân sinh của mình về cuộc đời, con người. Hàng loạt các tác phẩm đã ra đời nhằm “minh oan”, “chiêu tuyết” cho những con người bị miệt thị một cách bất công : Chí phèo, Một bữa no, Lang Rận, Tư cách mõ… Trong đó “Chí Phèo” là một tác phẩm tiêu biểu nhất của Nam Cao trước cách mạng tháng tám, viết về đề tài người nông dân nghèo và đánh dấu một bước phát triển đáng kể của văn xuôi Việt Nam. Có thể nói nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm là một điển hình nghệ thuật về người nông dân nghèo từ lương thiện sa vào tha hoá rồi lại rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người nhưng luôn cố vẫy vùng để đến với ánh sáng của thiên lương. Chi tiết để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng người đọc đó chính là mối tình giữa Chí Phèo và Thị Nở. Mối tình có một không hai trong làng văn Việt Nam khiến ta phải đọc rồi suy ngẫm rất nhiều về tình người trong cõi nhân thế.
Chí Phèo tự lúc nào đã đi vào trang văn Nam Cao và rồi lại từ trang văn Nam Cao bước ra. Nhân vật điển hình đến mức gấp sách lại ta vẫn thấy day dứt về một anh Chí vốn hiền lành lương thiện thế nhưng do sự áp bức ghê gớm của bọn chúa đất, thực dân đã khiến anh trở thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại. Tưởng chừng Chí Phèo đã bị tha hoá hoàn toàn với một tâm hồn chai đá, những hành động mất lí trí, bị huỷ hoại cả về nhân tính lẫn nhân hình, bản chất lương thiện bị che lấp. Nhưng trong trái tim anh vẫn len lỏi một thư ánh sáng nhiệm màu đó chính là ánh sáng của lương tri. Nam Cao là thế đó. Ông không bao giờ để nhân vật của mình chìm trong bóng tối mà luôn để nhân vật “trượt trên mặt phẳng nghiêng”, luôn cố vùng vẫy để thoát khỏi cái thế giới của con thú trở về với thế giới con người. Ranh giới ấy rất mong manh và vô cùng khó khăn. Liệu Chí có thể thực hiện được không ? Ai sẽ là người giúp anh làm được điều này ? Thị Nở! Chính Thị Nở là người hé mở cánh cửa để Chí trở về với ánh sáng của lương tri. Đọc đoạn văn này người đọc vô cùng sảng khoái trước nghệ thuật phân tích nội tâm tâm lí nhân vật rất tinh tế của Nam Cao.
Nhưng cái hay của Nam Cao không chỉ là những đoạn văn phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo mà còn là Nam Cao đã xây dựng được một nhân vật hết sức ấn tượng – Thị Nở ,“một người ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn” nhưng lại có một sức hút, sức hút của tình người đã kéo Chí về với ánh sáng nhân tâm. Nếu ta vẽ một chân dung Thị Nở riêng biệt chắc ta phải hoảng hốt bỏ chạy vì cái “dung nhan” ấy. Nhưng nếu ta vẽ hình ảnh của Thị với nồi cháo hành nghi ngút khói trên tay đem đến cho Chí khi hắn đang đói cào ruột bởi “trận thổ đêm qua”, khi hắn đang buồn bã cô đơn nhất, đang “thèm khát người” nhất, đang đau khổ tuyệt vọng nhất… thì hình ảnh ấy rung động người đọc biết bao ! Đó là sự rung động của nhân tâm rất tự nhiên, rất vô tư không hề “sợ hãi” như những người dân khác ở làng Vũ Đại mỗi khi gặp Chí và cũng  không hề tính toán thiệt hơn. Thị không biết tính toán và cũng chẳng cần tính toán. Cái nghĩa tình có ai tính toán bao giờ. Tình cảm của Thị thô mộc, nguyên sơ khiến ta cảm động quá!
Chính Nam Cao cũng không thể kìm lòng trước vẻ đẹp ấy. Nên ở trang văn này, ta bắt gặp những đoạn miêu tả khung cảnh thiên nhiên rất đỗi thơ mộng. Đó là những ánh sáng dịu hiền của trăng, trăng in cái bóng dáng xệch xạc, méo mó của Chí Phèo trên đường làng, trăng trên vườn chuối, hình ảnh cả hai ngủ say dưới trăng…. Và trong khung cảnh ấy ông đã ghép một đôi tâm sự rất xứng đôi : Chí Phèo – Thị Nở. Đương nhiên hai con người ấy có ngôn ngữ tâm sự riêng của họ, ta không bàn đến mà chỉ biết rằng : từ sau cái đêm trăng thanh gặp Thị, Chí Phèo đã nhận thấy một thứ thèm khác (không phải thèm rượu) đang sôi sục lên trong anh đó chính là sự mong muốn làm người. Niềm mong muốn ấy được Nam Cao miêu tả một cách tỉ mỉ, tinh tế những thay đổi rất tinh vi từ trong từng tế bào của Chí.
Điều đầu tiên nhà văn để cho Chí nhận ra thực tại của mình qua hình ảnh cái túp lều. Đó là cái túp lều ngoài bờ sông (thuộc đất lưu không) mà anh đã phải đánh đổi bằng máu, bằng lương tri, làm tay sai cho Bá Kiến mà có được ấy. Một cái túp lều ẩm thấp, tối tăm : “Ở đây người ta thấy chiều lúc xế trưa gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”. Đấy không phải nơi ở của con người, nó là địa ngục trần gian mà Chí đang chết dần chết mòn trong đó. Vậy mà chưa bao giờ Chí Phèo nhận thấy thế bởi Chí Phèo chưa bao giờ hết say. Đây là lần đâu tiên Chí nhận ra cái hiện thực cay đắng phũ phàng ấy.
Tiếp đó, nhà văn để cho Chí Phèo cảm nhận được những thanh âm của cuộc sống : tiếng chim ríu rít, tiếng trò chuyện của các người buôn hàng, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá… Những âm thanh quen thuộc đó ngày nào chả có. Nhưng đã bảy, tám năm trời nay, từ khi ra khỏi tù, lúc nào Chí cũng chìm trong cơn say thì làm sao Chí nghe được. Cuộc đời của anh là những cơn say dài mênh mông, vô tận , “tràn từ cơn say này sang cơn say khác…” đến mức “…Hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say…Hắn làm tất cả trong lúc người hắn say...”. Thế đấy, đã bao giờ hắn tỉnh để mà nghe những thanh âm của cuộc sống thường nhật chứ. Đây là lần đầu tiên sau một giấc ngủ dài Chí nghe thấy những thanh âm ấy. Những thanh âm của cuộc sống giản dị đã thức kéo thiên lương trong anh, khiến lòng anh bỗng mơ hồ buồn. Chao ôi buồn rồi lại nao nao buồn ! Cái buồn đó cứ như một cơn gió lúc thì ồ ạt lúc thì nhẹ nhàng. Bằng bút pháp phân tích nội tâm sâu sắc, tinh tế, Nam Cao đã mô tả quá trình thức tỉnh lương tri của Chí Phèo theo trình tự logic biện chứng.
Nhận ra được thực tại, đón nhận được giọt âm thanh của cuộc đời, nhà văn để cho Chí nhớ về quá khứ “hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê vợ dệt vải Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Cái ước mơ chân chính, nhỏ nhoi nhưng sao lại quá khó đối với Chí. Rồi Chí nhìn về hiện tại và tương lai “Chí Phèo hình như đã trông  thấy tuổi già của hắn; đói rét, ốm đau và cô độc ”. Chí sợ cô độc nhất. Khi đã sợ cô đơn là lúc con người ta cô đơn nhất và khao khát sự sum vầy. Nhưng Chí vốn là con hoang, không gia đình, không nhà cửa, không họ hàng thân thích. Hắn lại là con quỷ dữ trong mắt người dân ở làng Vũ Đại, không ai chấp nhận hắn chứ đừng nói đến chuyện sum vầy. 
Và khi Chí đang nhìn về tương lai đen tối kia với tâm trạng cô độc, sợ hãi cũng may là Thị Nở đến nếu không thì Chí khóc mất. Thị Nở bước vào cùng với bát cháo hành, một hình tượng đẹp nhất, một chi tiết nghệ thuật đem đến nhiều mĩ cảm. Chí Phèo ngạc nhiên, hết ngạc nhiên thì mắt Chí ươn ướt. Có lẽ vì đây là lần đầu tiên Chí được một người đàn bà cho ăn, bởi vì xưa nay Chí vẫn phải “doạ nạt hay giật cướp” của người khác thì mới có được. Nhưng thứ Thị cho Chí không đơn giản chỉ là bát cháo hành mà còn là một tình yêu thương mộc mạc, là ánh sáng soi rọi vào sâu thẳm tâm hồn Chí làm bừng lên chất người trong anh, làm cho anh khát khao trở về lương thiện, “thèm làm hòa với mọi người”. Nhìn bát cháo hành bốc khói, nhìn nụ cười tình tứ của Thị, Chí vừa vui mà vừa buồn, ta thấy được sự ăn năn và hạnh phúc từ trong nụ cười của Chí. Cầm bát cháo húp mồ hôi đổ ra những giọt to như giọt nước nhưng Chí vẫn cười. Vẫn đắm say trong niềm hạnh phúc mà bát cháo hành mang lại. Ôi ! nếu không có bát cháo hành kia liệu ta có thấy được nụ cười của Chí không hay chỉ thấy sự lưu manh hung tàn của một con quỷ dữ ? Bát cháo hành là sức mạnh của tình yêu nồng thắm, là biểu tượng của tình người duy nhất ở làng Vũ Đại. Nếu đặt trong mối tương quan với nhân vật bà Ba vợ Bá Kiến – người đàn bà đẹp nhất làng nhưng lại là “con quỷ cái” (bà ta chỉ biết lợi dụng Chí, kêu Chí lên bóp chân, lúc ấy anh chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì), thì Thị Nở rất đẹp. Vẻ đẹp của tình nghĩa nguyên sơ. Quả thật, Thị Nở càng xấu lại càng đẹp ! Thị Nở càng xấu, tác phẩm lại càng hay ! Đó là một thành công tuyệt vời của Nam Cao khi ông đã xây dựng được một hình tượng rất  thú vị.
Trước sự chăm sóc của Thị, lòng Chí bỗng trở nên trẻ con. Chí làm nũng với Thị như với mẹ vậy. Chí muốn làm người lương thiện “trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao”. Đó là lời kể, lời miêu tả nội tâm của Nam Cao hay đó chính là tiếng lòng thẳm sâu của Chí ? Chỉ có điều là nó đã bị vùi lấp bảy, tám năm trời nay. Hôm nay nó đã trở về. Chính Thị Nở đã đánh thức lòng thèm khát lương tri của Chí. Nói cho cùng, đây là sự kết duyên của hai tâm hồn đồng điệu. Tuy Thị Nở xấu xí nhưng tâm hồn lại đẹp. Chí Phèo đã bị tha hoá nhưng vẫn còn bản chất lương thiện của người nông dân. Và khi bản chất người ấy sống dậy là khi Chí khao khát gia đình : “giá như cứ thế này mãi thì thích nhỉ ?”. Như thế này mãi nghĩa là Chí muốn có cuộc sống bình yên và hạnh phúc không phải chỉ ở riêng bên Thị Nở mà còn ở bên mọi người. Cái tình yêu của Thị và Chí nói đúng nghĩa hơn là vừa cho vừa nhận “Đó là cái lòng yêu của một người làm ơn. Nhưng cũng có cả lòng yêu của người chịu ơn”.
Mối tình của Chí Phèo và Thị Nở quả thật là “đôi lứa xúng đôi”. Nhưng dụng ý của Nam cao không dừng lại ở đây. Và nếu cứ để Chí và Thị sống hạnh phúc bên nhau thì đâu còn là hiện thực phê phán nữa. Mối tình định mệnh của Chí chỉ diễn ra chóng vánh trong năm ngày. Đó là năm ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Chí, là năm ngày Chí được sống trong sự chăm sóc bởi tay một người đàn bà. Và khi hắn đã đến cái dốc bên kia của cuộc đời rồi, hắn mới cảm  nhận được mùi thơm của cháo hành : “trời ơi cháo mới thơm làm sao!”. Mùi vị cháo thơm hay đây là vị ngọt của cuộc đời ? Hay là tấm lòng săn sóc của Thị Nở ? Hình ảnh Thị Nở cũng trở nên đẹp đẽ từ việc chăm sóc Chí Phèo bằng bát cháo hành. Hình ảnh ấy đã gợi cho ta cái không khí đầm ấm của gia đình nông thôn xưa thế nhưng họ lại vấp phải rào cản lớn nhất : “bà cô Thị Nở” ; “Ai lại đi lấy thằng Chí Phèo !”. Bà đại diện cho định kiến khắt khe cổ hủ của xã hội phong kiến đã làm đầy tràn li bi kịch của Chí, đẩy Chí Phèo đến tận cùng của tuyệt vọng, cắt đứt cái cầu nối cuối cùng không cho Chí hoà nhập với cộng đồng. Khi Chí bị Thị Nở cự tuyệt “hắn bỗng nhiên ngẩn người”; “Hắn sửng sốt, đứng lên gọi lại”; “Hắn đuổi theo Thị”. Hoàn toàn vô vọng Chí cố uống rượu để say, để tìm quên đau khổ. Nhưng “càng uống lại càng tỉnh”; “hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoảng thoảng thấy hơi cháo hành, hắn ôm mặt khóc rưng rức”. Nam Cao đã thật tinh tế, thật sâu sắc khi miêu tả những biến đổi tâm trạng của nhân vật. Từ tâm trạng ấy, ta thấy những khát khao chân chính của Chí. Nhưng khi lương tri đã trở về lại là lúc bi kịch ập đến. Đó là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.
Nếu ta đánh giá cao tài năng của Nam Cao trong nghệ thuật miêu tả, phân tích nội tâm nhân vật và đặc biệt là nghệ thuật thắt nút – tháo nút – thắt nút trong tác phẩm thì chính đoạn văn miêu tả mối tình Chí – Thị là sự tháo nút của nhà văn nhưng lại là để lần thắt nút cuối cùng giải quyết toàn bộ xung đột bằng hành động quyết liệt của Chí  ở cuối tác phẩm.
Đó là hành động đi đòi lương thiện của Chí. Trong tận cùng đớn đau tuyệt vọng, trong cơn khát thèm lương thiện, mơ ước gia đình, Chí đã tìm đến nhà Bá Kiến (kẻ đã cướp đi đời lương thiện của Chí) không phải để rạch mặt ăn vạ hay xin đi tù để có chỗ trú thân như mọi lần mà là để đòi lương thiện : “Tao muốn làm người lương thiện”. Thế nhưng, Chí không còn đường nào khác, khi anh nhận ra được một bi kịch : “không được! ai cho tao lương thiện? Làm thế nào mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không!”. Chí nói rất dõng dạc câu nói đòi quyền làm người và đó cũng là những tiếng kêu tuyệt vọng của Chí. Bởi trong cái xã hội “Chó đểu” ( Vũ Trọng Phụng) ấy, quyền sống chính đáng của con người không được chấp nhận. Vậy nên chỉ có một cách : giết Bá Kiến và tự sát. Hành động của Chí Phèo như là một quy luật tất yếu. Nó không đơn giản là hành động trả thù cá nhân mà là hành động trả thù giai cấp. Bị đè nén, bị áp bức nhiều thì họ phải đứng lên chống lại. Nhưng hiện thực lúc bấy giờ, giết Bá Kiến rồi Chí Phèo cũng chỉ có một con đường chết. Đó cũng chính là kết cục chung của các tác phẩm hiện thực phê phán : nhân vật hoặc lâm vào ngõ cụt không lối thoát, hoặc là chết. Cái chết của Chí để lại thương tâm cho người đọc. Không ít người lên án, cho rằng Nam Cao quá nhẫn tâm hoặc gán cái hạn chế cho nhà văn. Nhưng không phải thế, yêu thương sâu sắc người nông dân, gắn bó máu thịt với cuộc sống của họ, Nam cao chắc sẽ rất đau trước cái chết của Chí. Nhưng thời đại ấy, không thể viết khác được. Đó là hạn chế của thời đại chứ không phải của nhà văn.
Tác phẩm khép lại là hình ảnh Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và đâu đó hiện ra một cái lò gạch bỏ hoang (nơi Chí Phèo ra đời). Hình ảnh ấy tạo cho tác phẩm kết cấu vòng tròn, đầu cuối tương ứng đồng thời cũng gọi ra cái vòng lẩn quẩn tối tăm của người nông dân nghèo. Hiện thực xã hội cũng lại phơi bày. Lại một quy luật “tre già măng mọc”: Chí Phèo chết sẽ có một Chí Phèo con ra đời. Bá Kiến chết rồi nhưng còn trăm ngàn Bá Kiến khác… Biết khi nào người nông dân mới thoát khỏi bối cảnh ấy ? Đó là trăn trở của nhà văn, là sự day dứt của người đọc. Trang văn Nam Cao bề ngoài lạnh lùng nhưng bên trong chan chứa tấm lòng nhân hậu, nhân đạo, nhân văn cao cả là vậy.
Tóm lại đoạn văn miêu tả tâm trạng, sự đổi thay, những khát khao và cả cái bi kịch dẫn đến thảm kịch của Chí là đoạn văn thành công nhất của Nam Cao. Có thể coi đây là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời Chí. Là đoạn văn thể hiện lòng yêu thương con người và cả lòng tin tưởng vào “thiện căn” ở con người của Nam Cao. Cũng từ đó mà tác phẩm thêm sức sống kì diệu, tô đậm hơn giá trị hiện thực và làm ngời sáng giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Đến đây ta có thể mạnh dạn mà đồng tình với một ý kiến của ai đó khi nói rằng : “Nếu không viết Chí phèo Nam cao đã để lại cho văn học việt Nam một khoảng trống lớn”. Đúng vậy qua “Chí Phèo”, Nam Cao đã đóng góp cho dòng văn học hiện thực phê phán nói riêng và văn học Việt Nam nói chung một tiếng nói nhân đạo, một nhân vật mang tính điển hình cho người nông dân trước cách mạng bị tha hóa, lưu manh hóa nhưng luôn dám đấu tranh để chống lại bất công. Nỗ lực không ngừng, cái tâm – cái tài của Nam Cao đã được chi nhận xứng đáng : “Trong văn hóa Việt Nam, với ngòi bút Nam Cao ta bắt đầu thấy thật có sự sống, thật có con người trong truyện ngắn” (Nguyên Hồng).
                          LINHK TẢI FILE WORD TẠI ĐÂY.
 Từ khóa: CHÍ PHÈO

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

 


HỖ TRỢ DẠY VÀ HỌC


TIN NỔI BẬT
ĐỌC MỌI THỂ LOẠI TIN TỨC TẠI ĐÂY
global html
Code Buy Transfer Sell
AUD 16,632.18 16,732.58 16,915.25
CAD 17,353.24 17,510.84 17,702.02
CHF 22,843.21 23,004.24 23,301.94
DKK - 3,473.44 3,582.30
EUR 26,116.27 26,194.85 26,585.86
GBP 29,944.32 30,155.41 30,423.72
HKD 2,932.91 2,953.59 2,997.80
INR - 322.52 335.17
JPY 198.52 200.53 205.54
KRW 18.94 19.94 21.19
KWD - 76,450.19 79,449.59
MYR - 5,526.51 5,598.03
NOK - 2,703.14 2,787.86
RUB - 341.58 380.62
SAR - 6,196.79 6,439.91
SEK - 2,544.13 2,608.17
SGD 16,683.71 16,801.32 16,984.75
THB 694.59 694.59 723.56
USD 23,260.00 23,260.00 23,350.00
LIÊN KẾT DẠY VÀ HỌC
LOGO HARVARD



LIÊN KẾT WEBSITE
HỌC NHANH TIẾNG NHẬT
 
 

VÌ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VIỆT

NGHỀ GIÁO .NET
GIÁO DỤC VIỆT .NET
VIỆT CÔNG NGHỆ .COM
GIÁO DỤC .NET.VN
GIÁO DỤC .EDU.VN
MẠNG GIÁO DỤC
THÔNG TIN TỪ BỘ GD
BÁO GIÁO DỤC  VÀ THỜI ĐẠI
TƯ LIỆU GIÁO DỤC
CÔNG ĐOÀN GD VIỆT NAM
DẠY HỌC INTEL.NET
DẠY VÀ HỌC NGÀY NAY

 

THẾ GIỚI TRỰC TUYẾN

BÁC SỸ TRỰC TUYẾN
LUYỆN THI TRỰC TUYẾN
ĐỌC BÁO TRỰC TUYẾN
KARAOKE TRỰC TUYẾN
ĐIỆN HOA TRỰC TUYẾN
BẢO HIỂM TRỰC TUYẾN
ĐỌC TRUYỆN TR. TUYẾN
THANH TOÁN TR. TUYẾN
DU LỊCH TRỰC TUYẾN
NHÀ SÁCH TRỰC TUYẾN
HỌC TIN TRỰC TUYẾN
HỌC GHITA TRỰC TUYẾN
SÀN TRỰC TUYẾN
HẢI QUAN TRỰC TUYẾN
HÁN VIỆT TRỰC TUYẾN
MUA VÉ TRỰC TUYẾN
QUÉT VIRUT TRỰC TUYẾN
NGÂN HÀNG TRỰC TUYẾN
TRA LỊCH TRỰC TUYẾN
THƯ VIỆN LUẬT TR.TUYẾN
XEM BÓI TRỰC TUYẾN

THẾ GIỚI UPLOAD FILE

4shared.com
mediafire.com
box.com
fshare.vn
rapidshare.com
danhbahosting.com
flashupload.com
upanh.com
up.anhso.net
imageshack.us

 

global rate
global QR code
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây